Kỳ 1: Bên đê lấn biển: Thi gan cùng sóng dữ

Kỳ 2: Bên đê lấn biển: Nỗi niềm Tiên Lãng

Kỳ 3: Bên đê lấn biển: Phận người nơi đầu sóng

Cơn chuyển mình của biển

Đứng bên Cồn Vành (Tiền Hải, Thái Bình), nhìn về Nam Định, đê khuất làng mờ nhưng nhà thờ khá hiện diện. Cửa Ba Lạt (cửa sông Hồng) không chuyến đò ngang, đành ngược về đê sông hơn chục cây số. Qua đò Giao Hương, lại về đê biển.

Tuyến đê biển Nam Định đi qua ba huyện: Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng. Bên biển - bên nhà thờ uy nghi, tháp chuông cao vút thỉnh thoảng điểm tiếng chuông vang giữa làng lúa, làng muối... âm hưởng suốt bờ đê. Không có vùng biển nào có nhiều nhà thờ như ở đây. Nhà thờ chạy dọc con đê, nối tiếp nhau sâu vào làng. Vẫn là đất, nhà thờ, làng quê Nam Định nhưng biển Nam Định không ở yên mà vùng vẫy chuyển mình. Biển bồi chỗ này, chỗ kia thành lở.

Qua khu bảo tồn Quốc gia Xuân Thuỷ, khi Cồn Lu ngoài mờ khơi xa xuất hiện cũng là lúc biển xâm thực đất liền. Đi hết chân đê xã Giao Xuân đến Giao Hải đã thấy biển dỗi hờn, sóng vỗ mạnh dưới chân khiến đê xung yếu. Các xã Giao Hải, Giao Long, Bạch Long, Giao Phong và thị trấn Quất Lâm tiếp nối và hứng chịu những nguồn cơn.

Cửa Hà Lạn nơi con sông Sò đổ ra khơi chia tách huyện Giao Thủy - Hải Hậu. Sông Sò - tên sông khiêm nhường, nhánh cuối cùng của sông Hồng chảy vào đất Nam Định. Sông bắt nguồn từ thị trấn Ngô Đồng, sông nhỏ, dòng yếu nên không "vạt" được đầu nhô ra của thị trấn du lịch Quất Lâm. Ra đến biển, cửa sông như thiếu nữ e lệ nghiêng đầu chào biển. Thị trấn Thịnh Long và 5 xã của huyện Hải Hậu sóng đánh tràn bờ. Biển sùng sục vò đất, vặt đê. Làng bên biển, vất vì muối, buồn chài chã, ra khơi lưới kém căng, khoang kém đầy thì đành, mỗi mùa bão gió lại thương đê như thương người thân lưng trần vai xước oằn mình chặn sóng.

Xây lắp cống số 9, tại K17+ 620 tuyến đê biển Nam Định. Ảnh : Nhật Trường
"Kiếp trước ăn mặn, kiếp này làm... diêm dân"

Suốt dọc chiều dài của biển tính từ xã Bạch Long (Giao Thủy) đến xã Nghĩa Phúc (Nghĩa Hưng), theo đê là cánh đồng ô, thửa vuông dài như dàn phơi khổng lồ mọc lên từ đất. Bốn mùa, cánh đồng này không có mầu xanh. Những ngày đầu xuân, đồng tối sẫm, thấp thoáng bóng phụ nữ gạt cát thầm lặng. Vậy, hạt muối trắng là sự giải thoát từ biển khơi, kết tinh, trắng. Từ biển xanh, cát đen hạt muối đoạn tuyệt mầu. Ngừng tay trang cát, chị diêm dân cười: "Kiếp trước chúng tôi ăn mặn nên kiếp này phải làm... diêm dân!". Câu nói trên cũng chỉ đùa, an ủi mình để làm việc, tôi nghĩ vậy. Và đời họ lầm lụi như cát bên đê, những con người lưng áo bạc, nhấm nháp mồ hôi, cả cuộc đời đong biển bán mặn.

Chúng tôi làm quen anh Dâng (Nguyễn Văn Dâng), quê ở Nghĩa Phúc (Nghĩa Hưng, Nam Định). Quê anh làm muối, chật vật lắm nên anh lên Hà Nội kiếm việc. Hỏi có bao nhiêu người bỏ làng đi cùng anh? Anh bảo chỉ những người bị giàng buộc như có bố mẹ già, con nhỏ, ốm đau đành phải ở lại. Còn thì vào nam, ra bắc lên Lào Cai, Lai Châu làm thợ thuyền. Anh Dâng tâm sự, những chiều chờ việc ngồi bên bờ sông Kim Ngưu mùi hôi bốc lên khiến mình nhớ đê biển. Nhớ mùi cá mú, nhớ cơn gió chiều, nhớ những cơn mưa rào lại trằn mình vì muối...

Con đê Bạch Long uốn vào khiến cho biển chòi ra roi cát. Mấy phụ nữ xúc thành đống rồi đưa lên công nông. Chỉ có đàn ông lái xe, còn toàn là phụ nữ và biển. Cát biển đưa về đồng để làm muối. Ngừng tay xẻng, chị Vũ Thị Thuỷ phàn nàn: "Muối rẻ lắm! Vụ rồi bán được 12 nghìn đồng một phương (một phương bằng 25kg), tính ra chưa được 500 đồng một cân"! Một gói thuốc Vinataba mua trong đại lý cũng ngần ấy tiền. Gói thuốc nhẹ bẫng nhưng bằng một nửa gánh muối. Có về đồng muối mới hiểu được nhọc nhằn của diêm dân.

Hạt muối được nâng niu cất giữ, được đi dự những đại tiệc... Người làm muối ra khỏi đồng chỉ là phận tha hương. Cát biển không thể xây nhà tầng, cao ốc. Phận người làm muối như cát biển, sóng xô, mưa trút, nắng thiêu. Vất quá, người làm muối bỏ làng mà đi. Xa quê lại nhớ đồng phơi mặn, nhớ những ngày sáng nắng, chiều mưa.

Biển "nuốt" làng

Hằng trăm năm nay biển xâm thực Hải Hậu, sóng biển hát dưới chân đê hay sóng dập dưới chân đê. Biển tìm lối thoát hay để trút cơn giận giữ điên cuồng. Tình thương của biển vơi đi, nước mắt dân lành thấm vào trong cát. Hồn người bên biển treo sóng, mong manh phần phật trên cột buồm?

Dọc đê biển lấn vẫn còn đó nhiều nhà thờ bỏ hoang, dấu tích nghiệt ngã của những lần xâm thực. Biển cướp làng của dân, cướp nhà thờ của chúa. Bao năm biển dập, sóng dồi, người dân xứ đạo Xương Điền (Hải Lý, Hải Hậu) hoang mang. Ra biển kiếm sống, đến nhà thờ cầu nguyện. Đất làng thành cát, nhà thờ thành gạch vụn. Nhớ làng, nhớ nhà thờ xưa, chắp nối những đứt gãy, bà Nguyễn Thị Nhất, 77 tuổi kể: "Ngày xưa làng ở mãi ngoài kia. Nhà thờ cách đê biển bây giờ đến mười cây số. Ông bà chúng tôi bảo mồ mả, nhà cửa ngoài đó cũng mất. Mất rồi!". Dấu tích làng hoang phế, giếng nước, tường nhà dân xót lại cũng đang bị biển xoá mờ. Đường về làng năm xưa nay chỉ còn gờ đất. Cua cáy đục lỗ chỗ tổ ong. Làng cũ, gạch vụn phần hoá cát, phần tan theo sóng.

Tan buổi cầu nguyện trời đã tối đen. Ông Nguyễn Văn Rạng 78 tuổi đôi mắt còn sáng còn trong, đi lại hoạt bát, và trí nhớ minh mẫn: "Bão về, cha cõng con, mẹ dắt chị, nhà nhà bồng bế nhau, cả làng liêu xiêu chạy. Thấm thía lắm!". Cha xứ Xương Điền, Phê-rô Nguyễn Quang Thiện cho biết giáo xứ đã ba lần chuyển nhà thờ, mỗi lượt lại vào sâu hơn trong thôn xã. Nhà thờ mà giáo dân đang cầu nguyện bây giờ khánh thành vào năm 1960".

Xây lại nhà thờ, cấp đất cho giáo dân làm nhà. Đất được phân lô, mỗi hộ làm một nhà đều đặn như khu tập thể. Con đê biển trước tới nay vẫn là đê đất, nhiều giáo dân không yên khi biển động, gió gào, sóng xé nát con đê. Bao nhiêu năm nhà thờ của giáo xứ Xương Điền xây dựng kiên cố, bấy nhiêu năm giáo dân trả những nhọc nhằn, khổ đau cho biển. Trả mãi vẫn không xong. Nửa thế kỷ trôi qua mà nỗi sợ đê vỡ, biển xâm thực vẫn còn nguyên trong tâm thức.

Biển vẫn ầm ào phía ngoài đê. Biển còn đó, đê còn đó nhưng làng xưa thành ký ức. Nỗi nhớ làng vọng tiếng chuông xa.

Tỉnh Nam Định có bờ biển dài 72 km, đến nay, toàn tỉnh đã kiên cố hóa được 33 km đê ở những nơi xung yếu nhất tại cả 3 huyện: Giao Thủy, Hải Hậu và Nghĩa Hưng. Đê biển có thể chống được bão cấp 10, gió cấp 12. Khi con đê đang hoàn thiện cũng là lúc nhiều giáo dân tích cóp xây nhà bên con đê biển. Đê biển Nghĩa Hưng dài 12km, nằm giữa hai cửa sông Ninh Cơ - sông Đáy. Huyện Nghĩa Hưng bán Hải Hậu, bán Kim Sơn nên con người vùng biển cũng có giao thoa rõ rệt. Vùng giáp Hải Hậu làm muối nhẫn nại với đời sống diêm dân, vùng giáp Kim Sơn (Ninh Bình) mang nặng yếu tố khai hoang mở đất.

Theo Ninh Nguyễn - Trần Khánh/ Nhân Dân

(Tiêu đề do Tuần Việt Nam đặt lại)