,
221
482
Vấn đề
vande
/giaoduc/vande/
506824
Darya - cô gái Nga "chọn Việt Nam học làm số phận"
1
Article
Giáo dục
/giaoduc/
,

Darya - cô gái Nga 'chọn Việt Nam học làm số phận'

Cập nhật lúc 04:26, Thứ Năm, 02/09/2004 (GMT+7)
,

(VietNamNet) - Nhân lễ Quốc khánh 2/9 năm nay, mời các bạn làm quen với nhà Việt Nam học người Nga trẻ tuổi: Cô Darya D. Mishukova, phó giám đốc Trung tâm Văn hoá Việt Nam ở Vladivostok, người đang hoàn tất đến 90% luận án tiến sĩ về ngữ pháp tiếng Việt và muốn học gần như tất cả những gì mang đậm nét văn hoá Việt Nam...

Vladivostok, tuyển sinh 2004: Tiếng Việt cao điểm hơn tiếng Nhật

Triển lãm sách về ngôn ngữ các dân tộc thiểu số của Việt Nam tại Trung tâm VHVN. Bên phải ảnh là cô Darya Mishukova. (Ảnh: TTVHVN) 

Tại Nga, Trung tâm Văn hoá Việt Nam (VHVN) đặt trụ sở ở Viện Phương Đông của trường Đại học Tổng hợp Quốc gia (ĐH THQG) Viễn Đông ở thành phố Vladivostok. Trung tâm được thành lập vào năm 2000 nhờ sự ủng hộ và giúp đỡ của nhà trường, Lãnh sự quán Việt Nam tại Vladivostok, Hội Hữu nghị Việt-Nga của vùng Primorskiy crai thuộc Liên bang Nga, Hội Doanh nghiệp Việt Nam và cộng đồng Việt Nam sống, làm việc tại thành phố Vladivostok.

Ngoài ra, ở Moscow có một Trung tâm Nghiên cứu về Việt Nam nằm ở trường Đại học các nước Á-Phi, thuộc trường ĐH THQG Moscow.

Darya Mishukova đã sang Việt Nam bốn lần. Giai đoạn 1997-1998: Tám tháng thực tập tiếng Việt ở Hà Nội, Huế, Hội An. Vào hè 2003, cô lại sang hai tháng để tìm tài liệu cho luận án, gặp các giáo sư về Việt Nam học và đi du lịch, tham quan, nghiên cứu những nét văn hoá Việt Nam ở TP.HCM, Tây Ninh, Nha Trang, Đà Lạt, Bà Rịa-Vũng Tàu, đồng bằng sông Cửu Long. Hồi Tết 2004, Darya cũng vừa sang ăn Tết một tuần với gia đình bạn bè ở TP.HCM. Đến hè 2004 mới rồi, cô lại sang dự Hội nghị quốc tế về Việt Nam học lần II ở TP.HCM, rồi đi thăm đảo Phú Quốc...

Sắp tới, Darya muốn sang du lịch ở miền Bắc và miền Trung Việt Nam, thăm động Phong Nha, chùa Hương. "Đây là một “bí mật” làm cho tôi hơi xấu hổ, vì tôi chưa thăm chùa Hương." - Dareya bộc bạch - "Tôi đã đọc nhiều nhưng chưa nhìn thấy được tận mắt ngôi chùa nổi tiếng này".

Darya cũng muốn sang thăm lại cố đô Huế, muốn nghiên cứu thêm các dân tộc thiểu số trong 54 dân tộc của Việt Nam, sau đó tổ chức triển lãm nhiếp ảnh, trang phục, thủ công mỹ nghệ của các dân tộc này ở Trung tâm VHVN tại Vladivostok.

Tuy vậy, theo cô Darya, phương hướng, phương pháp cũng như mục đích nghiên cứu của hai Trung tâm này khác nhau. Hoạt động của Trung tâm ở Moscow mang tính chất khoa học, còn hoạt động của Trung tâm VHVN ở Vladivostok tập trung nhiều đến văn hoá.

"Một ví dụ: Chuyên gia Moscow đang dịch quyển Đại Việt Sử ký Toàn thư sang tiếng Nga - một công trình rất quan trọng đối với giới Phương Đông học. Đó là một công việc rất lớn lao và danh dự, nhưng công trình nghiên cứu này chỉ dành cho chuyên gia, nghĩa là phạm vi sử dụng tương đối hẹp. Trong khi đó, hoạt động của Trung tâm VHVN thu hút sự chú ý của nhiều người qua các cuộc triển lãm nhiếp ảnh về Việt Nam, trình diễn áo dài Việt Nam trong khuôn khổ những Ngày Việt Nam ở Vladivostok... nhằm giúp nhiều người tiếp cận với văn hoá Việt Nam, tìm hiểu nhiều hơn về đất nước Việt Nam." - cô Darya phân tích.

Cũng theo Darya, hiện nay ở Vladivostok có hơn 70 sinh viên Nga học tiếng Việt, nếu cộng thêm tuyển sinh năm 2004 này thì có tất cả 87 sinh viên. Ở các trường đại học tại thủ đô Moscow, tại Saint Petersburg, số sinh viên học tiếng Việt trong một lớp không quá năm-sáu người (sáu người là tối đa), ngoài ra không phải năm nào cũng có tuyển sinh vào trường học tiếng Việt do "phải xem tình hình cung-cầu ở thị trường lao động". Tuỳ nhu cầu đào tạo các chuyên gia về Việt Nam học ở mức độ nào, nếu có nhu cầu thì mới công bố tuyển sinh vào trường học tiếng Việt.

Tình hình này ở Vladivostok - một thành phố nằm trong vùng Viễn Đông của Liên bang Nga, một thành phố của nước châu Âu trong khu vực châu Á thì tình hình hoàn toàn khác. Năm nào cũng có rất nhiều học sinh mới tốt nghiệp trường phổ thông muốn thi vào đại học, chọn học về các nước châu Á-Thái Bình dương, trong đó có Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Ấn Độ. Bởi trung tâm kinh tế thế kỷ XXI chuyên sang châu Á nên nhiều bạn trẻ Nga muốn biết, muốn học và nghiên cứu về khu vực này.

"Do vậy, có bao nhiêu người muốn học về Việt Nam thì vào trường bấy nhiêu. Trường đại học sẵn sàng đáp ứng nhu cầu này, và có đầy đủ khả năng để đào tạo chuyên gia về Việt Nam học ở trình độ nghề nghiệp cao. Sau khi tốt nghiệp đại học, họ làm việc ở các công ty thương mại, du lịch, và những kiến thức họ đã nhận ở trường giúp cho họ thích nghi với công việc mới rất nhanh chóng." - Darya kể - "Tất nhiên, vẫn có một số sinh viên học một năm rồi nghỉ học, chuyển sang ngành học khác. Thế nhưng tỷ lệ sinh viên bỏ ngành Việt Nam học này có thể nói cũng tương tự như ở các Khoa khác (bình quân khoảng 5%/năm)". 

Các nữ sinh viên Nga trong áo dài Việt Nam, chụp ảnh cùng các giáo viên và cán bộ quản lý tại Trung tâm VHVN. Darya đứng thứ tư, từ trái sang. (Ảnh: TTVHVN)

- Có gì khác biệt trong đề tài và cách tiếp cận, quan điểm và phương pháp,... giữa các thế hệ học giả Nga trong mảng nghiên cứu Việt Nam?

- Darya Mishukova: Hình như sự khác biệt đó cũng không khác gì sự khác biệt giữa các học giả ở những ngành học khác. Thế hệ trẻ tích cực áp dụng những công cụ kỹ thuật mới, còn các học giả thế hệ trước có kinh nghiệm, vốn sống, truyền thống nghiên cứu, khi cùng nhau làm việc thì “các cụ” (trích VietNamNet) chia sẻ những kiến thức khoa học của mình - kết quả của nhiều năm công tác nghiên cứu, nhưng cũng học thêm về multimedia, kỹ thuật số từ thế hệ trẻ. Thêm nữa, khoa học không thể tồn tại được nếu không có truyền thống, nhưng mặt khác cũng không thể tiến bộ được nếu không khám phá những “chân trời mới”.

- Tại Vladivostok, các sinh viên Nga muốn học tiếng Việt, tiếp cận văn hoá Việt Nam thường là những đối tượng nào? Quan trọng hơn, họ muốn vươn tới các mục tiêu nào khi đến với các hoạt động và các lớp ngoại khoá ở Trung tâm của Darya, hay chỉ do bạn bè lôi kéo, do... tò mò?

Ngoài tiếng Việt, Darya đã từng học bốn thứ tiếng nước ngoài khác: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Thái Lan và tiếng Trung Quốc với "những mức độ rất khác nhau"- như cô cho biết.

Nói chung, sinh viên đã vào Viện Phương Đông, trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Viễn Đông ở bất cứ chuyên môn nào đều phải học bốn ngoại ngữ sau: Ngôn ngữ Phương Đông chính (chuyên môn của họ), ngôn ngữ Phương Tây chính (tiếng Anh), ngôn ngữ Phương Đông “phụ” (một thứ tiếng có liên hệ chặt chẽ với ngôn ngữ chuyên môn, ví dụ nếu chuyên môn là tiếng Nhật thì ngôn ngữ “phụ” là tiếng Nhật cổ; với tiếng Ấn Độ (Hindi) thì ngôn ngữ phương Đông “phụ” là tiếng sanskrit; còn với sinh viên học tiếng Việt thì ngôn ngữ phương Đông “phụ” này là tiếng Trung Quốc); cùng ngôn ngữ Phương Tây “phụ” (với sinh viên học tiếng Việt, ngôn ngữ này là tiếng Pháp).

- Ở Nga, thanh niên vào đại học ngay sau khi tốt nghiệp phổ thông, lúc 17 tuổi. Mục tiêu vào đại học là nhận được bằng tốt nghiệp đại học, ít ai suy nghĩ về chuyên nghiệp sau đại học. Tất nhiên là khi chọn ngành học, họ suy nghĩ về tương lai, cố gắng đánh giá xu thế của thời đại, trong đó có vai trò của khu vực Đông Nam Á, Do vậy, những ngành học có liên quan đến khu vực này được nhiều sinh viên chọn. Đặc biệt, kết quả tuyển sinh năm nay đã làm nhiều người rất ngạc nhiên: Điểm (kết quả cuộc thi) vào Trường học tiếng Việt đã cao hơn điểm vào học tiếng Nhật, và đã có nhiều người không muốn thi vào học tiếng Nhật, mà muốn vào học tiếng Việt!

Những lớp ngoại khoá tại Trung tâm VHVN là những cuộc trao đổi do Tổng lãnh sự Việt Nam hoặc các doanh nghiệp Việt Nam tại Vladivostok tổ chức, với nhiều chủ đề khác nhau. Ví dụ, ông Trần Văn Cường, Tổng lãnh sự Việt Nam đã nói chuyện với sinh viên Nga về ngành ngoại giao Việt Nam. Ai có thể nói về ngành ngoại giao Việt Nam tốt hơn một nhà ngoại giao Việt Nam như thế? Ngài Tổng lãnh sự đã nói bằng tiếng Việt, sinh viên vừa nghe vừa ghi chép, sau đó ở nhà đã nhớ lại nội dung của cuộc trao đổi để làm bài văn, nộp cho giáo viên kiểm tra. Do vậy, những cuộc trao đổi loại này có ý nghĩa cả về mặt nội dung, lẫn về mặt phưong pháp: sinh viên vừa học về chủ đề cụ thể, học từ nguồn thông tin đáng tin nhất, vừa tập nghe, tập viết; còn giáo viên có thể đánh giá được khả năng nghe-hiểu của sinh viên. Sinh viên nghiêm túc đều hiểu những cái lợi của lớp ngoại khoá này, còn sinh viên lười biếng thì... rất may mắn là số sinh viên loại này rất ít!

"Việt Nam học là số phận của Darya"

- Những kỷ niệm Hà Nội - chặng đầu tiên trong hành trình Việt Nam học của Darya tại Việt Nam?

- Năm 1995, tôi tốt nghiệp trường phổ thông nhưng chưa biết chinh xác muốn học đại học về cái gì. Có lẽ là ngoại ngữ chăng? Một ngưòi bạn của gia đình đã nói rằng nếu học ngoại ngữ thì nên chọn tiếng Việt, bời vì sau khi tốt nghiệp đại học có thể tìm được việc làm. Những năm 1990, rất ít người vào đại học để học tiếng Việt, do vậy đó là một ngành lúc ấy là “hiếm có”. Gia đình của tôi lúc ấy cũng không có liên quan nào với Việt Nam, thậm chí không có liên quan nào cả với Phương Đông học, trừ em ruột của... ông ngoại tôi đã làm việc nhiều năm ở Bắc Kinh (Trung Quốc) trong cương vị phó đại diện thương mại của Liên Xô (cũ).

Darya Mishukova đã sang Việt Nam bốn lần. Giai đoạn 1997-1998: Tám tháng thực tập tiếng Việt ở Hà Nội, Huế, Hội An. Vào hè 2003, cô lại sang hai tháng để tìm tài liệu cho luận án, gặp các giáo sư về Việt Nam học và đi du lịch, tham quan các danh lam thắng cảnh, nghiên cứu những nét văn hoá Việt Nam ở TP.HCM, Tây Ninh, Nha Trang, Đà Lạt, Bà Rịa-Vũng Tàu, đồng bằng sông Cửu Long. Hồi Tết 2004, Darya cũng vừa sang ăn Tết một tuần với gia đình bạn bè ở TP.HCM. Đến hè 2004 mới rồi, cô lại sang dự Hội nghị quốc tế về Việt Nam học lần II ở TP.HCM, rồi đi thăm đảo Phú Quốc...

Sắp tới, Darya muốn sang du lịch ở miền Bắc và miền Trung Việt Nam, thăm động Phong Nha, chùa Hương. "Đây là một “bí mật” làm cho tôi hơi xấu hổ, vì tôi chưa thăm chùa Hương." - Dareya bộc bạch - "Tôi đã đọc nhiều nhưng chưa nhìn thấy được tận mắt ngôi chùa nổi tiếng này".

Darya cũng muốn sang thăm lại cố đô Huế, muốn nghiên cứu thêm các dân tộc thiểu số trong 54 dân tộc của Việt Nam, sau đó tổ chức triển lãm nhiếp ảnh, trang phục, thủ công mỹ nghệ của các dân tộc này ở Trung tâm Văn hoá Việt Nam tại Vladivostok.

Tôi đã học ngành tiếng Việt, rồi sang Hà Nội thực tập từ ngày 2/10/1997 để học tại Khoa tiếng Việt cho sinh viên nước ngoài thuộc trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội). Trong lớp của tôi ở Hà Nội, có chín sinh viên Nga, trong đó có tám sinh viên từ trường ĐHTH QG Viễn Đông (Vladivostok) và một sinh viên từ trường ĐHTH QG Saint Petersburg. Ngoài ra, còn có sinh viên, thực tập sinh các nước Ukraina, Bulgaria, Romania, Trung Quốc, Mông Cổ, Lào, Campuchia nữa, nhưng họ học ở các lớp khác.

Vào những năm đó. GS Nguyễn Anh Quế làm chủ nhiệm Khoa. Tuy GS Quế không dạy lớp của tôi nhưng khi biết tôi tìm những tài liệu chuẩn bị làm luận án tốt nghiệp (sau ba năm học nữa), giáo sư đã cho phép tôi đến lớp của ông để dự các bài về ngữ pháp tiếng Việt dành cho sinh viên Trung Quốc... đã học tiếng Việt ba năm rồi. Ngoài ra, GS Quế còn giúp tôi rất nhiều trong việc tìm tài liệu về ngữ pháp tiếng Việt, cả tài liệu mới lẫn tài liệu cũ xuất bản vào những năm 1970 nay rất hiếm...

Trong năm học đó, tôi đã vào những viện bảo tàng ở thủ đô Hà Nội. Có lẽ ấn tượng mạnh nhất với tôi là những cột gỗ từ sông Bạch Đằng trong Viện Bảo tàng Lịch sử. Tôi cũng đi thăm các chùa, nhưng chỉ những ngôi chùa nằm ở địa bàn Hà Nội, còn ngoài Hà Nội tôi chỉ đi thăm chùa Thầy (cách Hà Nội khoảng 30km). Năm đó, tôi cũng đi tham cố đô Huế và Hội An. Những cung đình, lăng miếu Huế đã gây ấn tượng rất mạnh đối với tôi, đặc biệt là các lăng vua Minh Mạng, vua Tự Đức.

- Và những ấn tượng vui, buồn thời sinh viên ở Hà Nội?

- Tôi còn nhớ một chuyện đã làm nhiều người bạn và đồng nghiệp Việt Nam của tôi tức cười. Có lẽ bạn đọc của VietNamNet cũng cười ha ha khi biết chuyện này. Số là khi tôi học ở Hà Nội, các bạn sinh viên học tiếng Việt lớp trên đã nói đùa rằng người Vịêt Nam dùng... thịt chuột (chuột cống) khi nấu phở. Vì vậy, trong những tháng thực tập ấy, tôi không bao giờ ăn được phở Việt Nam. Đến khi tôi về nước, ngài Tổng lãnh sự Việt Nam Nguyễn Ngọc Bình hỏi tôi về chuyến đi Việt Nam, về việc này việc khác và cả câu hỏi: “Darya có thích ăn phở không?”. Tôi đáp rằng nghe nói người Việt Nam dùng thịt chuột nấu phở nên ghê sợ quá, không thể ăn được, cũng chưa bao giờ vào quán phở! Ngài Tổng lãnh sự cười: “Ai nói rằng người Việt Nam dùng thịt chuột khi làm phở?”. Tôi đáp: ”Các bạn sinh viên đã nói như vậy”. Ông ấy cười tươi nói: “Nên sang Việt Nam một lần nữa ăn phở Việt Nam, một món ăn tiêu biểu Việt Nam!". 

Darya Mishukova tại TP.HCM, ảnh do PV VietNamNet chụp. Darya nhận xét: "Ảnh này... không giống tôi chút nào, bạn bè tôi sẽ nhìn không ra!" (Ảnh: Phan Thảo)

Đối với tôi, cuộc sống ở ký túc xá (tại ĐH Bách khoa Hà Nội) quả là cực khổ vì tôi nhớ nhà, đồng thời tôi đã không thể thích ứng được với không khí của ký túc xá. Trong số sinh viên nước ngoài sang Việt Nam thực tập, các sinh viên xuất xứ từ các gia đình khác nhau, được giáo dục theo những cách khác nhau (tôi không đánh giá tốt hay xấu, chỉ nhấn mạnh rằng khác nhau). Ví dụ, đối với một số người thì uống rượu say khi đi chơi cuối tuần là một việc "bình thường", là một cách "vui chơi giải trí rất thú vị". Đã có một số người ngày nào cũng uống rượu, hút thuốc trên ban-công, khi nói chuyện với nhau đã dùng những từ mà người có văn hoá không bao giờ dùng được... Vì vậy, đúng là tôi đã từng đến đại sứ quán Nga để xin về nước.

Tuy vậy, cuối cùng việc về nước trước khi thời gian thực tập kết thúc đã không xảy ra. Câu trả lời cho việt này rất đơn giản: Ở Nga, tôi sống với mẹ. Mẹ tôi là chuyên gia giỏi về bảo hiểm ở thành phố. Mẹ quyết định tôi tiếp tục học tiếng Việt, nên tôi làm theo yêu cầu của mẹ...

Tóm lại, kỷ niệm sâu sắc nhất của tôi ở Hà Nội nếu tách ra, chia làm hai, thì cụ thể là những kỷ niệm về ký túc xá (rất xấu) và những kỷ niệm về Việt Nam (tốt). Tôi có kỷ niệm rất tốt đẹp về GS Nguyễn Anh Quế, về những cán bộ của Đại sứ quán Nga, về chuyến đi thăm cố đô Huế…

- Vì sao bạn cho rằng “Việt Nam học là số phận của Darya”, trong khi bạn còn rất trẻ (25 tuổi) và có thể còn nhiều cơ hội khác bày ra trước mắt, cả trong nghiên cứu (một hướng đi khác) lẫn trong công việc, nghề nghiệp?

- Dĩ nhiên không ai có thể đoán trước đúng 100% tương lai của mình. Nghe tôi nói “Việt Nam học là số phận của tôi” trong khi năm nay tôi mới 25 tuổi, có lẽ một số người cho là… hơi thiếu cơ sở. Giá như năm nay tôi 75 tuổi rồi, chắc chắn Toà soạn VietNamNet không đạt câu hỏi trên :)

Thế nhưng trong giai đoạn này, Việt Nam học là một bộ phận rất quan trọng trong đời sống của tôi. Mặt khác, tôi đã bắt đầu học tiếng Việt vào năm 1995, cách đây mới mười năm hoặc cách đây mười năm rồi - tôi không biết đối với tôi, nói cách nào là đúng hơn… Dù sao, nếu tính toán thì chặng đường ấy gần như nửa đời của tôi, do vậy sự khẳng định đó hoàn toàn là đúng!

Sẽ có thêm nhiều người Nga muốn khám phá Việt Nam...

- Bằng cách nào, Darya đã tìm được nhiều tài liệu ngữ pháp quý để phục vụ cho việc triển khai đề tài luận văn tiến sĩ của mình?

- Vào mùa hè năm 2002, tôi đã tham dự Hội nghị EvroViet V tại thành phố Saint Petersburg. Tại đây, GS Alexandr Sokolovskiy (giáo sư hướng dẫn luận án tiến sĩ của tôi) đã giới thiệu tôi với một số nhà khoa học Việt Nam. Trong đó, có GS Trần Ngọc Thêm, Viện sĩ nước ngoài của Viện Hàn lâm Khoa học Liên bang Nga, chuyên gia về văn hoá học, văn hoá Việt Nam, tác giả của nhiều công trình rất có giá trị cả về văn hoá Việt Nam, lẫn về ngôn ngữ và ngữ pháp, phong cách tiếng Việt. Chính GS Trần Ngọc Thêm đã giúp tôi gặp được nhiều nhà ngôn ngữ học Việt Nam, trong đó có GD Cao Xuân Hạo, TS Nguyễn Đức Dân, một số giáo sư, tiến sĩ khác của trường ĐH KHXH&NV (ĐHQG TP.HCM).

Tại Hội nghị EvroViet V, tôi cũng đã được giới thiệu với GS Hà Minh Đức - một nhà văn, nhà thơ Việt Nam, chuyên gia giỏi về văn học Việt Nam, trước đây làm viện trưởng Viện Văn học Việt Nam, nay là tổng biên tập tạp chí Văn học. Khi tôi sang Hà Nội tìm tài liệu cho luận án, GS Hà Minh Đức đã giúp tôi gặp nhiều nhà ngôn ngữ học tại Viện Ngôn ngữ học... 

Darya Mishukova: "Nay tôi nghiêng về cuộc sống xã hội, văn hoá. Khi nào gặp được “đối tượng” xứng đáng, tôi sẽ dành mình cho gia đình cho... cân bằng". (Ảnh: TTVHVN)
 

Sau đó, tôi đã sang Việt Nam thu thập các tài liệu về loại từ tiếng Việt. Tôi đã gặp các nhà ngôn ngữ học và đã mua rất nhiều quyền sách về ngôn ngữ học, ngữ pháp tiếng Việt tại những nhà sách ở TP.HCM và thủ đô Hà Nội. Các nhà ngôn ngữ học Việt Nam cũng đã tặng cho tôi rất nhiều tài liệu mới, trong đó có một số tài liệu chưa xuất bản.

Tôi muốn chia sẻ với Tòa soạn và bạn đọc VietNamNet về cuộc gặp đầu tiên với GS Cao Xuân Hạo. Trước hết, tôi đã biết rằng GS Cao Xuân Hạo là một người lớn tuổi (sinh năm 1930), đã viết rất nhiều sách về ngữ pháp tiếng Việt. Tôi cũng đã đọc những tài liệu về sự nghiệp của thầy, biết rằng gia đình thầy Hạo đã có ba thế hệ giáo sư, v.v… Tôi cũng đã đọc cuốn “Dạ, thưa thầy…” do Phan Hoàng viết. Trong cuốn sách này, tác giả đã dựng nên bức chân dung của những người thầy nổi tiếng của Việt Nam thời đương đại, trong đó có viết về thầy Cao Xuân Hạo: “Một bậc thầy đáng kính. Một nhà ngôn ngữ học tên tuổi vượt ngoài biên giới quốc gia”...

Được GS Trần Ngọc Thêm báo số điện thoại của thầy Cao Xuân Hạo, tôi hơi lo ngại khi quay số điện thoại của nhà ngôn ngữ học nổi tiếng này. Thế nhưng sau khi xin phép được nói chuyện với GS Cao Xuân Hạo, tôi nghe qua điện thoại giọng nói của ông mà nghe như của một người... trẻ tuổi, đầy năng lực và rất năng động. Cuộc gặp đầu tiên đã gây ấn tượng rất mạnh đối với tôi. Trong suốt 3 giờ liền, tôi lắng nghe thầy nói về phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ, ngữ pháp tiếng Việt, về dịch thuật, v.v...

- Bao giờ Darya bảo vệ luận văn tiến sĩ? Giá trị, hay tính mới, của luận văn này là gì? Phác thảo kế hoạch tiếp theo của Darya, sau khi lấy bằng tiến sĩ? 

Darya Mishukova (trái) cùng giám đốc Trung tâm Văn hoá Việt Nam Alexandr Sokolovskiy (phải) chụp ảnh với TS Nguyễn Đức Nghĩa, phó giám đốc ĐHQG TP.HCM khi ông sang thăm Khoa Ngữ hệ Đông Nam Á ở Vladivostok. (Ảnh: TTVHVN)

- Tôi đã thực hiện gần 90% luận án tiến sĩ của tôi, còn ngày tháng bảo vệ luận án sẽ được Hội đồng khoa học quyết định. Theo tôi, giá trị và tính mới của luận án này đối với ngành Việt Nam học ở Nga là rất cao. Trong khoảng mười năm qua, hình như không có luận án nào được bảo vệ ở Liên bang Nga về ngữ pháp tiếng Việt (được coi là "mới nhất" có lẽ là luận án về ngữ pháp tiếng Việt của TS Huỳnh Bá Lân, bảo vệ tại Viện Phương Đông học, Moscow, năm 1995). Do vậy, những thành tựu của nhà khoa học Việt Nam về ngữ pháp tiếng Việt là một phạm vi rất mới lạ đối với giới Việt Nam học Nga.

Sau khi lấy bằng tiến sĩ ngôn ngữ học, tôi muốn tập trung nghiên cứu về kinh tế Việt Nam, đặc biệt những luật về kinh tế, kinh doanh ở Việt Nam. Ngoài ra, tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu về văn hoá, tiếp tục tổ chức những triển lãm nhiếp ảnh, và tiến hành hàng loạt hoạt động văn hoá ở Trung tâm VHVN - nghĩa là sẽ tiếp tục việc mà tôi đang làm với tư cách phó giám đốc của Trung tâm, nhưng hy vong sẽ làm tốt hơn, ở trình độ cao hơn, lên tầm cao mới.

- Những gì trong văn hoá Việt Nam để lại ấn tượng sâu đậm nhất nơi Darya chắc sẽ được... chuyển hoá các thành chương trình, đề tài của Trung tâm VHVN?

Website của Trung tâm VHVN (http://www.vietnamculture.fromru.com) do Darya xây dựng hoàn toàn (cả việc thiết kế lẫn chuẩn bị nội dung, nộp tiền thuê bao Internet... ). Đại đa số thông tin trên website là bằng tiếng Nga và tiếng Việt, do cô không có đủ thời gian để chuẩn bị tài liệu tiếng Anh. Mục đích chính của website này là trở nên nguồn thông tin đáng tin cậy về Việt Nam học ở Viễn Đông Nga, đưa tin kịp thời về những sự kiện trong giới Việt Nam học của thế giới nói chung, và Việt Nam học Nga, Viễn Đông Nga nói riêng.

Website cũng muốn trở thành nguồn thông tin về Việt Nam cho người du lịch Nga, đồng thời có thể trở thành nguồn thông tin cho các nhà doanh nghiệp Việt Nam và Nga - cụ thể là cho các nhà doanh nghiệp Nga muốn kinh doanh ở Việt Nam và người Việt Nam muốn sang Nga học tập, làm ăn, khám phá thị trường mới.

"Tôi thật sự muốn dành thời gian nhiều hơn cho việc làm webssite này, nhưng tôi cũng phải đi dạy ở trường vì đây là công việc của tôi, rồi làm luận án, viết các bài tham luận về đề tài luận án, làm công việc dịch  thuật Nga-Việt-Nga (cả dịch viết và dịch miệng) - tức phải ưu tiên số một để làm những việc kiếm tiền, đó là sự thật hàng ngày. Còn làm website của Trung tâm Văn hoá Việt Nam thì được rất nhiều người hoan nghênh nhưng không ai đầu tư cho việc này." - Darya tâm sự.

- Tôi rất thích nghệ thuật Việt Nam. Tôi đã xem hai loại ba-lê ở Việt Nam: Ba-lê dựng theo kịch bản hiện đại (chống ma tuý, chẳng hạn) không thể bằng ba-lê dựng theo huyền thoại truyền thống Việt Nam - như vở “Viên ngọc đỏ” (sự tích Mỵ Châu, Trọng Thuỷ) mang tính nghệ thuật cao, kết hợp hài hoà truyền thống và hiện đại.

Đặc biệt, tôi rất thích đi xem hát chèo, hát tuồng Việt Nam - hai loại hình nghệ thuật mang tính truyền thống rất cao. Có khi nghe hát chèo, hát tuồng, tôi chỉ hiểu 50% thôi nhưng vẫn rất thích. Tôi cũng rất tò mò quan sát các khán giả khác. Ví dụ, khi đi xem hát chèo ở Đền Ngọc Sơn bên hồ Gươm ở Hà Nội, có thể phân chia người xem như sau: 30-40% là du khách nước ngoài, còn 60-70% là các ông bà cụ người Việt Nam. Tôi đã nhìn thấy những cặp vợ chồng rất lớn tuổi, giúp nhau qua cầu đỏ cong cong vào khuôn viên. Hình như đó là những người Việt Nam có văn hoá rất cao, kiến thức rất rộng lớn nên việc nói chuyện với họ thú vị hơn nhiều so với những thanh niên Việt Nam chỉ biết xem phim, nghe nhạc nước ngoài. (Nói vậy, chứ trong số những bạn trẻ Việt Nam, tôi cũng gặp những người biết nhiều về văn hoá dân tộc.)

Tôi cũng rất thích các loại nghề thủ công mỹ nghệ Việt Nam. Tôi đã thử làm gốm, rất tiếc là chỉ có ít thời gian. Hy vọng trong tương lai, tôi sẽ có khả năng trở lại tiếp tục học làm gốm Việt Nam!

Tôi cũng muốn học nấu các món ăn Việt Nam (hiện nay tôi chỉ biết làm bún bò và bánh tráng cuốn). Tôi còn muốn học nghề thêu truyền thống của Việt Nam, may áo dài, học đánh đàn nhạc truyền thống Việt Nam, nghĩa là học về những gì mang đậm nét văn hoá Việt Nam, để sau này tổ chức những hoạt động văn hoá ở Trung tâm VHVN, cho nhiều người Nga tìm hiểu về Việt Nam, một đất nước đẹp, giàu truyền thống văn hoá.

Tôi biết rằng chắc chắn sẽ có nhiều người trong số đó sang khám phá Việt Nam theo cách riêng của mình: Một số người sẽ tìm được một Việt Nam tạo cơ hội kinh doanh cho các nhà doanh nghiệp, người khác sẽ khám phá những bãi biển đẹp của Việt Nam, công viên đẹp cho trẻ con, còn người khác sẽ tìm được một Việt Nam đầy truyền thống văn hoá…

- Chúc Darya thành công! Khi nào lại sang Việt Nam, nhớ báo VietNamNet biết và đừng ngại việc đề nghị Toà soạn hỗ trợ về chuyên môn nhé... 

- Tôi không ngại đâu! Tôi không phải ở... trong rừng và Toà soạn VietNamNet không phải là... con gấu dữ :)

Hữu Thiện (thực hiện) 

,
Gửi cho bạn bè In tin này
Ý kiến của bạn
Ý kiến bạn đọc
,
,
,
,